Đại hội của ý Đảng và lòng dân trong Kỷ nguyên vươn mình của Dân tộc Việt Nam

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội XIV) diễn ra trong bối cảnh đất nước đứng trước những thời cơ và thách thức đan xen, khi Việt Nam đã hội tụ đủ điều kiện để bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đây không chỉ là kỳ Đại hội có ý nghĩa tổng kết một chặng đường phát triển, mà còn là Đại hội mở ra những định hướng lớn cho tương lai đất nước trong nhiều thập niên tới. Trong điều kiện Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, mọi quyết sách của Đại hội đều gắn trực tiếp với đời sống Nhân dân. Vì vậy, Đại hội XIV không chỉ là đợt sinh hoạt chính trị cao nhất của Đảng, mà còn là sự kiện chính trị - xã hội có ý nghĩa sâu sắc đối với toàn thể Nhân dân, đòi hỏi ý chí của Đảng phải thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, bởi “Dân là gốc” là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam.

Một là, Đại hội XIV là sự kiện kết tinh ý chí, nguyện vọng và niềm tin của Nhân dân

Về bản chất chính trị, “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của dân tộc”[1]. Chính vì vậy, Đại hội Đảng toàn quốc vừa là sự kiện chính trị có tính nội bộ Đảng vừa có tính chất xã hội rộng lớn. Trong điều kiện Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, mọi quyết sách chiến lược được thông qua tại Đại hội đều tác động trực tiếp đến đời sống Nhân dân. Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV đã khẳng định rõ quan điểm xuyên suốt “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể”. Đây không chỉ là sự kế thừa bài học kinh nghiệm “dân là gốc” trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, mà còn là sự phát triển về chất trong tư duy lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh mới. Việc tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân đối với các dự thảo văn kiện Đại hội XIV có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc thể hiện rõ sự kết nối ý Đảng với lòng Dân. Dự thảo các Văn kiện đã được thảo luận rộng rãi trong toàn Đảng, công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, lấy ý kiến các đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các tầng lớp Nhân dân bằng nhiều hình thức phong phú. Chỉ trong 1 tháng lấy ý kiến, Dự thảo nhận được đóng góp hơn 14 triệu lượt ý kiến của Nhân dân gửi về các Tiểu ban Văn kiện. Tất cả ý kiến đó được chắt lọc, tiếp thu nghiêm túc, góp phần làm nên Báo cáo chính trị Đại hội. Chính vì thế, “Báo cáo chính trị là sự kết tinh trí tuệ, sức mạnh của Nhân dân, là sự hoà quyện giữa ý Đảng với lòng dân, thực sự là “ngọn đuốc soi đường”, là “cẩm nang hành động” cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta”[2]. Quá trình này không chỉ thể hiện tính dân chủ, công khai, minh bạch trong hoạch định đường lối, mà còn khẳng định mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân; là sự kết tinh và thống nhất giữa ý chí của Đảng và nguyện vọng của Nhân dân, giữa trí tuệ lãnh đạo và thực tiễn sinh động của đời sống xã hội.

 

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN

Hai là, Đại hội XIV định hình con đường phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

Đại hội XIV mang trọng trách lịch sử đặc biệt quan trọng là định hình con đường phát triển của đất nước trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV xác định rõ mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát huy tối ưu nguồn lực con người. Đối với Nhân dân, những định hướng này không mang tính khái quát trừu tượng, mà gắn trực tiếp với chất lượng cuộc sống hằng ngày của Nhân dân. Điểm đáng chú ý là trong tư duy phát triển của Đại hội XIV, tăng trưởng kinh tế không được đặt tách rời, mà gắn chặt với tiến bộ và công bằng xã hội. Điều này thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức chính trị: kỷ nguyên vươn mình của dân tộc không chỉ là sự gia tăng các chỉ số kinh tế, mà là sự phát triển toàn diện của con người và xã hội. Nhân dân không chỉ “được hưởng thành quả”, mà phải thực sự cảm nhận được sự cải thiện rõ rệt về chất lượng sống và cơ hội phát triển. Đại hội XIV cũng đặt vấn đề hoàn thiện thể chế phát triển như một khâu đột phá chiến lược. Trong bối cảnh mới, thể chế không chỉ là công cụ quản lý, mà là động lực thúc đẩy sáng tạo, giải phóng nguồn lực xã hội và khơi dậy tinh thần cống hiến của Nhân dân. Việc tháo gỡ các “điểm nghẽn” về cơ chế, chính sách vì vậy mang ý nghĩa trực tiếp đối với đời sống và niềm tin của Nhân dân. Có thể khẳng định, việc Đại hội XIV định hình rõ con đường phát triển đất nước chính là cơ sở để Nhân dân tin tưởng vào tương lai, yên tâm lao động, sản xuất và đồng hành cùng Đảng, Nhà nước trong kỷ nguyên vươn mình.

Ba là, Đại hội XIV củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng trong bối cảnh thế giới đầy biến động

Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng là nền tảng chính trị - xã hội cốt lõi, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng và sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước. Trong bối cảnh thế giới và khu vực đang biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, khi những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, niềm tin ấy không chỉ cần được gìn giữ, mà phải được củng cố vững chắc và nâng lên tầm cao mới, tương xứng với yêu cầu của kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện sứ mệnh đó. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV thể hiện rõ bản lĩnh chính trị và tinh thần trách nhiệm cao của Đảng trước Nhân dân, trước dân tộc, thông qua việc nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực trạng, không né tránh những hạn chế, yếu kém. Chính cách tiếp cận đó đã và đang tạo ra cơ sở quan trọng để củng cố niềm tin xã hội trong bối cảnh nhiều giá trị, mô hình và chuẩn mực trên thế giới đang bị thử thách. Đặc biệt, dự thảo Báo cáo xây dựng Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tăng cường kiểm soát quyền lực, giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và hệ thống chính trị. Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định “Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng không đến từ lời nói, mà đến từ việc làm, từ sự công tâm, liêm chính của cán bộ, từ hiệu quả của bộ máy, từ sự công bằng trong thụ hưởng, từ kết quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giải quyết kịp thời, thấu đáo những bức xúc chính đáng của người dân, doanh nghiệp”[3]. Đối với Nhân dân, đây không chỉ là nhiệm vụ nội bộ của Đảng, mà là thước đo trực tiếp phản ánh mức độ trong sạch, vững mạnh và năng lực cầm quyền của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

Thực tiễn cho thấy, niềm tin của Nhân dân không được tạo dựng từ những tuyên bố chung chung, mà được hình thành và bồi đắp từ những kết quả cụ thể, có thể kiểm chứng trong đời sống xã hội. Đại hội XIV khẳng định: “Mọi đường lối, chính sách phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân; tôn trọng, lắng nghe và dựa vào Nhân dân”[4]. Thực tiễn chứng minh, khi nào Đảng xác lập rõ trách nhiệm của mình trước Nhân dân thì sẽ tạo ra nền tảng chính trị quan trọng để chuyển hóa niềm tin thành sự đồng thuận và ủng hộ xã hội rộng rãi. Khi Nhân dân tin Đảng thì Nhân dân sẵn sàng chia sẻ khó khăn, đồng hành với các quyết sách lớn và chủ động tham gia vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Bốn là, Đại hội XIV khơi dậy khát vọng phát triển và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, khát vọng phát triển không chỉ là mong muốn, mà trở thành động lực tinh thần to lớn thúc đẩy toàn xã hội hành động. Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường và khát vọng cống hiến trong toàn dân. Điều này thể hiện sự nhận thức sâu sắc rằng mọi chiến lược phát triển chỉ có thể thành công khi được đặt trên nền tảng đồng thuận xã hội và sự tham gia tự giác của Nhân dân. Đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được xác định là đường lối chiến lược, nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam. Trong kỷ nguyên mới, đại đoàn kết không chỉ là sự tập hợp lực lượng, mà còn là sự hòa quyện lợi ích, trách nhiệm và khát vọng giữa các giai tầng xã hội, các vùng miền và các cộng đồng trong đại gia đình dân tộc Việt Nam. Đại hội XIV, bằng việc nhấn mạnh vai trò của Nhân dân với tư cách là chủ thể trung tâm của sự nghiệp phát triển, đã tạo nền tảng chính trị vững chắc để củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Khát vọng phát triển được khơi dậy từ chính đời sống Nhân dân; khi khát vọng cá nhân hòa quyện với khát vọng dân tộc, sức mạnh tinh thần của xã hội sẽ được nhân lên, trở thành động lực to lớn để hiện thực hóa những mục tiêu phát triển lớn lao của đất nước. Chính vì vậy, trong phát biểu khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh đất nước ta “bước vào giai đoạn phát triển mới với hành trang là truyền thống vẻ vang của dân tộc, là thành quả của 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, là 40 năm đổi mới với những bài học quý giá, là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân. Chúng ta có đủ cơ sở để tin tưởng: Khi thống nhất cao về tư tưởng; quyết liệt trong hành động; nghiêm minh trong kỷ luật; Nhân dân thật sự là trung tâm, nhất định chúng ta sẽ biến khát vọng thành hiện thực; đưa đất nước tiến mạnh, tiến vững chắc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội”[5]. Có thể khẳng định rằng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ khơi dậy khát vọng phát triển, mà còn tạo ra nguồn năng lượng tinh thần to lớn cho toàn xã hội. Chính khát vọng phát triển và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khi được khơi dậy và dẫn dắt đúng hướng, sẽ trở thành nhân tố quyết định đưa Việt Nam vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Năm là, Đại hội XIV khẳng định vai trò của Nhân dân trong hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV không chỉ dừng lại ở việc xác định mục tiêu và định hướng phát triển, mà còn đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Nhân dân trong việc hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đây là điểm nhấn có ý nghĩa sâu sắc, phản ánh tư duy nhất quán của Đảng: mọi khát vọng phát triển chỉ có thể trở thành hiện thực khi được Nhân dân đồng thuận, hưởng ứng và trực tiếp tham gia. Vì thế, Báo cáo chính trị trình Đại hội khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển”[6].

Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Đại hội XIV xác định rõ việc bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, tạo môi trường thuận lợi để người dân học tập, lao động, sáng tạo và cống hiến. Việc khẳng định vai trò của Nhân dân trong hiện thực hóa khát vọng phát triển cũng đồng thời đặt ra trách nhiệm cho Đảng và Nhà nước trong việc chăm lo, bảo vệ và phát huy quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Đại hội XIV vì vậy không chỉ truyền đi thông điệp về mục tiêu phát triển, mà còn gửi gắm niềm tin vào sức mạnh Nhân dân - sức mạnh quyết định sự thành công của mọi chiến lược phát triển. Khi khát vọng cá nhân hòa quyện với khát vọng quốc gia, khi mỗi người dân đều ý thức được trách nhiệm và vai trò của mình, thì kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam sẽ có nền tảng xã hội vững chắc để phát triển bền vững và lâu dài.

Tóm lại, Đại hội XIV không chỉ là dấu mốc chính trị quan trọng trong tiến trình phát triển của Đảng, mà còn là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt đối với Nhân dân và tương lai dân tộc Việt Nam. Đại hội thể hiện rõ sự thống nhất giữa tư duy chiến lược của Đảng với thực tiễn sinh động của đời sống xã hội; giữa mục tiêu phát triển quốc gia với lợi ích thiết thân, lâu dài của Nhân dân. Đại hội XIV với việc khẳng định lấy Nhân dân làm trung tâm, đã tạo dựng nền tảng chính trị - xã hội vững chắc để huy động và phát huy nguồn lực đặc biệt đó. Khi Nhân dân tin tưởng, đồng hành và chủ động tham gia vào quá trình thực hiện đường lối của Đảng, các nghị quyết của Đại hội mới có thể đi vào cuộc sống một cách thực chất và bền vững và khi đó Đảng mới giữ vững vai trò lãnh đạo trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

                               Tin bài: PGS.TS, Đại tá Hà Trọng Thà

         Đảng ủy viên, Trưởng phòng Phòng Bảo đảm chất lượng đào tạo

                                                                 



[1] Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.3.

[2] Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, sáng 20/01/2026.

[3] Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, sáng 20/01/2026.

[4] Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, sáng 20/01/2026.

[5] Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, sáng 20/01/2026.

[6] Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, sáng 20/01/2026.

arrow_upward