Quyền bầu cử trong các bản Hiến pháp của Việt Nam

   Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là sự kiện chính trị lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với cả nước và từng địa phương; được tổ chức vào thời điểm đất nước đã tiến hành công cuộc đổi mới gần 40 năm, đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, đặc biệt là cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương 02 cấp, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Bài viết giới thiệu khái quát về quyền bầu cử và việc quy định quyền này trong các bản Hiến pháp của Việt Nam. 

   1. Khái quát về quyền bầu cử và tầm quan trọng của bầu cử

   “Bầu cử” là việc chọn lựa người nắm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước được thực hiện bởi người dân thông qua con đường bỏ phiếu tập thể.[1]

   Quyền bầu cử là quyền chính trị cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật quy định, cho phép công dân đủ điều kiện trực tiếp bỏ phiếu lựa chọn đại biểu vào các cơ quan quyền lực nhà nước. Quyền bầu cử được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế quan trọng về con người như Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền (UDHR, 1948- Điều 21), Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR, 1966 – Điều 25); Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)…

   Quyền bầu cử có tầm quan trọng đặc biệt trong nhà nước và xã hội hiện đại, thể hiện ở các khía cạnh:

   - Bầu cử là cơ sở của nền dân chủ hiện đại. Trong các nhà nước dân chủ, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Bầu cử là quá trình lựa chọn và trao quyền lực nhà nước cho những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân để thực hiện đối với toàn xã hội, đặc biệt với những quyền lực trọng yếu như quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp… Chủ tịch Hồ Chí Minh là người hiểu rất rõ ý nghĩa của bầu cử đối với nền dân chủ, Người từng đề cập “Trước hết, nền dân chủ đã được thiết lập trên những nền tảng vững chắc. Ngày 06-1 vừa qua, Tổng tuyển cử được tổ chức với thành công tốt đẹp nhất”[2]

   - Bầu cử là cơ sở hình thành chính quyền, bộ máy nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Thông qua hoạt động bầu cử của người dân mà hình thành trực tiếp hay gián tiếp toàn bộ các cơ quan trong bộ máy nhà nước, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa người dân với đại biểu đã được bầu chọn, từ đó người dân thực hiện quyền theo dõi, giám sát và bầu chọn lại của mình, qua đó đảm bảo các cơ quan nhà nước hoạt động vì lợi ích của người dân. 

   2. Quyền bầu cử trong các bản Hiến pháp của Việt Nam

   Quyền bầu cử tại Việt Nam đã trải qua hơn 80 năm phát triển, từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 đến nay, không ngừng củng cố theo hướng dân chủ, phổ thông và bình đẳng. 

   Hiến pháp năm 1946

   Ngay sau khi thành lập Chính phủ lâm thời, ngày 08/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 14 về mở cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc dân đại biểu. Tiếp sau đó, ngày 17/10/1945, Sắc lệnh số 51 ấn định thể lệ tổng tuyển cử, trong đó xác định rõ “Tất cả những công dân Việt Nam 18 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử [3]”.

   Trên cơ sở các văn bản pháp lý này, ngày 06/01/1946, cuộc tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử Việt Nam đã diễn ra, đánh dấu một bước tiến lớn trong việc xây dựng thể chế dân chủ. Hiến pháp năm 1946 được Quốc Hội khóa I thông qua vào ngày 02/3/1946 đã lần đầu tiên quy định quyền bầu cử của công dân trong một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất. Điều 18 Hiến pháp năm 1946 ghi nhận: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền.”; “Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử”

   Dưới góc độ Hiến pháp, đây là cột mốc đánh dấu sự chuyển đổi triệt để từ thể chế quân chủ chuyên chế sang thể chế cộng hòa dân chủ, nơi quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân thông qua phương thức phổ thông đầu phiếu.



Hình: Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu bầu cử.
Nguồn: Báo Quân khu 4

   Hiến pháp năm 1959

   Trong kì họp lần thứ 6, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá I đã quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1946. Ngày 31/12/1959, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp sửa đổi.

   Về quyền bầu cử, Điều 23 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, không phân biệt dân tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, từ hai mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử, trừ những người mất trí và những người bị Toà án hoặc pháp luật tước quyền bầu cử và ứng cử. Công dân đang ở trong quân đội có quyền bầu cử và ứng cử.” Hiến pháp năm 1959 đã mở rộng thêm hàng loạt yếu tố cần đảm bảo nguyên tắc bình đẳng thực chất trong quyền chính trị: không phân biệt dân tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú.

   Hiến pháp năm 1980

   Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, nước ta đã hoàn toàn thống nhất. Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa VI ngày 18/12/1980 đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980.

   Điều 57 Hiến pháp ghi nhận: “Công dân không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có thể được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, trừ những người mất trí và những người bị pháp luật hoặc Toà án nhân dân tước các quyền đó.”

   Hiến pháp 1980 tiếp tục khẳng định nguyên tắc bình đẳng trong quyền bầu cử, đồng thời nhấn mạnh quyền ứng cử vào cả Quốc Hội và hội đồng nhân dân các cấp.

   Hiến pháp năm 1992 

   Ngày 15/4/1992, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp năm 1992, thể chế hóa đường lối đổi mới toàn diện, đánh dấu giai đoạn phát triển mới của Việt Nam.

   Trong Hiến pháp 1992, tại Điều 54 quy định “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.”

   So với các bản hiến pháp trước, Hiến pháp 1992 không thay đổi về độ tuổi bầu cử và ứng cử nhưng tiếp tục tái khẳng định và mở rộng nội hàm của các nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong thực hiện quyền chính trị.

   Hiến pháp năm 2013 

   Hiến pháp năm 2013 được thông qua trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng đã có nhiều điểm đổi mới về quyền con người và quyền công dân. Hiến pháp 2013 quy định quyền bầu cử tại Điều 27: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định."

   Hiến pháp 2013 đã lược bỏ các tiêu chí “không phân biệt” từng được liệt kê cụ thể trong các hiến pháp trước. Điều này đảm bảo cho tính chất khái quát, ổn định của Hiến pháp, tạo cơ sở để các đạo luật cụ thể hóa đồng thời phù hợp với tinh thần bảo đảm quyền con người theo thông lệ quốc tế.

   Kết luận

   Qua các bản Hiến pháp từ năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013, có thể thấy quyền bầu cử của công dân Việt Nam không ngừng được mở rộng hoàn thiện và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Bầu cử vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của mỗi công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mỗi cử tri khi tham gia bầu cử không những là niềm vinh dự được thực hiện quyền dân chủ, mà còn là nghĩa vụ công dân, thể hiện trách nhiệm chính trị của mình đối với vận mệnh đất nước, đúng như lời Bác đã căn dặn “...Đi bỏ phiếu trong cuộc tổng tuyển cử vừa là quyền lợi quý báu, vừa là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người cử tri.” [4]

   Lực lượng CAND cần nắm vững quy định của pháp luật, trong đó có quy định của Hiến pháp về quyền bầu cử để góp phần đảm bảo cho cuộc bầu cử diễn ra dân chủ, đúng pháp luật, lựa chọn được người xứng đáng đại diện cho nhân dân vào các cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, HĐND các cấp). Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức trách nhiệm của cử tri trong sự kiện chính trị trọng đại này của đất nước.       

Tin bài: Nguyễn Thị Thu Hương - K2  


[1] ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hiến pháp, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2024, tr.303.

[2] Hồ Chí Minh, Công hàm gửi Chính phủ các nước Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên Xô và Vương quốc Anh ngày 18/02/1946, Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.287.

[3] trừ ra những người này: (1) Những người điên: những người mà dân địa phương đã công nhận là điên. Danh sách những người trong làng hay khu phố do Uỷ ban nhân dân làng hay khu phố ấn định. (2) Những người hành khất chuyên môn, hay là những người do một hội thiện nào nuôi vĩnh viễn. Danh sách những người này do Uỷ ban nhân dân làng hay khu phố ấn định. (3) Những người bị can án mà không được hưởng sắc lệnh đại xá của Chính phủ dân chủ cộng hoà”.

[4] Lời Bác căn dặn trong buổi thăm và nói chuyện với Đại hội Đại biểu Nhân dân Thủ đô ngày 14 tháng 4 năm 1964 bầu cử Quốc hội khóa III. Nguồn: https://baochinhphu.vn/san-sang-cho-ngay-hoi-lon-102292195.htm.

arrow_upward